Hướng dẫn quy đổi thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với sĩ quan khi thôi phục vụ tại ngũ
Thông tư số 25/2025/TT-BQP ngày 6-5 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn như thế nào về việc quy đổi thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với sĩ quan khi thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần hoặc sĩ quan tại ngũ chuyển sang công chức quốc phòng? Báo Quân đội nhân dân thông tin về quy định mới này.

Theo Điều 8 Thông tư số 25/2025/TT-BQP, việc quy đổi thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với sĩ quan khi thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần hoặc sĩ quan tại ngũ chuyển sang công chức quốc phòng, như sau:
1. Điều kiện quy đổi, mức quy đổi thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 52/2025/NĐ-CP đối với sĩ quan khi nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, nghỉ theo chế độ bệnh binh; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần hoặc chuyển sang công chức quốc phòng thực hiện như sau:
a) Thời gian công tác được quy đổi theo hệ số 1 năm bằng 1 năm 6 tháng để tính hưởng trợ cấp gồm:
- Thời gian tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp từ ngày 22-12-1944 đến ngày 20-7-1954; ở chiến trường miền Nam, Lào từ ngày 20-7-1954 đến ngày 30-4-1975, ở chiến trường Campuchia từ ngày 20-7-1954 đến ngày 31-8-1989; trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc từ ngày 5-8-1964 đến ngày 27-1-1973 (trừ trường hợp đi học tập, chữa bệnh và công tác ở nước ngoài).
- Thời gian tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở biên giới Tây Nam từ tháng 5-1975 đến tháng 12-1978; ở biên giới phía Bắc từ tháng 2-1979 đến tháng 12-1988; truy quét Fulrô từ tháng 5-1975 đến tháng 12-1992. Địa bàn biên giới trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc được tính quy đổi là địa bàn biên giới.
- Thời gian làm nhiệm vụ quốc tế và nhiệm vụ đặc biệt ở Lào, Campuchia qua các thời kỳ (trừ trường hợp được cử đi học, đi theo chế độ ngoại giao hoặc đi làm kinh tế).
b) Thời gian công tác được quy đổi theo hệ số 1 năm bằng 1 năm 4 tháng để tính hưởng trợ cấp gồm:
- Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp đặc biệt mức 100% quy định tại Thông tư số 09/2005/TT-BNV ngày 5-1-2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
- Thời gian làm nghề, công việc được xếp điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (loại V, loại VI) quy định tại Quyết định số 1085/LĐTBXH-QĐ ngày 6-9-1996; Quyết định số 03/2006/QĐ-LĐTBXH ngày 7-3-2006 và Thông tư số 20/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28-6-2016 của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc ban hành Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong Quân đội.
c) Thời gian công tác được quy đổi theo hệ số 1 năm bằng 1 năm 2 tháng để tính hưởng trợ cấp gồm:
- Thời gian công tác ở địa bàn có phụ cấp khu vực từ hệ số 0,7 trở lên quy định tại Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BTC-UBDT ngày 5-1-2005 của Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp khu vực.
- Thời gian làm nghề, công việc được xếp điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (loại IV) quy định tại Quyết định số 1085/LĐTBXH-QĐ; Quyết định số 03/2006/QĐ-LĐTBXH và Thông tư số 20/2016/TT-BLĐTBXH.
d) Khi cơ quan có thẩm quyền ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung địa bàn có phụ cấp đặc biệt mức 100%, địa bàn có phụ cấp khu vực từ hệ số 0,7 trở lên, danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (loại V, loại VI) và nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (loại IV) thì được thực hiện theo quy định mới hoặc quy định sửa đổi, bổ sung.
đ) Các trường hợp làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như nghề, công việc ngoài Quân đội mà không được quy định tại Quyết định số 1085/LĐTBXH-QĐ; Quyết định số 03/2006/QĐ-LĐTBXH và Thông tư số 20/2016/TT-BLĐTBXH thì được thực hiện theo các quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) về ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
2. Quy đổi thời gian công tác đối với một số trường hợp cụ thể:
a) Trường hợp trong cùng một thời gian công tác, nếu sĩ quan có đủ 2 điều kiện trở lên quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này chỉ được hưởng theo mức quy đổi cao nhất. Trường hợp thời gian công tác có cùng hệ số quy đổi nhưng không liên tục thì được cộng dồn sau đó mới thực hiện quy đổi.
b) Thời gian công tác ở địa bàn trước đây chưa được quy định mà nay quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì thời gian công tác ở địa bàn đó được quy đổi thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần.
- Thời gian công tác ở địa bàn trước đây được quy định mức phụ cấp đặc biệt 100% hoặc phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên mà sau đó cấp có thẩm quyền quy định địa bàn đó có mức phụ cấp đặc biệt dưới 100% hoặc phụ cấp khu vực dưới hệ số 0,7 thì thời gian công tác trước đó ở địa bàn nói trên tính đến trước ngày cấp có thẩm quyền ban hành quy định mới được tính là thời gian công tác được quy đổi để tính hưởng trợ cấp.
c) Thời gian công tác làm nghề hoặc công việc mà nghề hoặc công việc đó trước đây chưa được xếp loại, sau đó nghề hoặc công việc đó được cấp có thẩm quyền xếp loại điều kiện lao động loại IV trở lên thì thời gian từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc này được tính loại IV trở lên để quy đổi tính hưởng trợ cấp.
- Thời gian công tác làm nghề hoặc công việc mà trước đây được xếp loại thấp hơn, sau đó nghề hoặc công việc đó được xếp loại cao hơn thì được tính thời gian theo loại cao hơn kể từ khi bắt đầu vào làm nghề hoặc công việc đó để quy đổi tính hưởng trợ cấp.
- Thời gian công tác làm nghề hoặc công việc mà trước đây được xếp loại cao hơn, sau đó nghề hoặc công việc đó xếp loại thấp hơn thì được tính thời gian theo loại cao hơn kể từ khi vào làm nghề hoặc công việc đó đến trước ngày liền kề quy định mới có hiệu lực, sau đó tính theo loại thấp hơn từ ngày quy định mới có hiệu lực để quy đổi thời gian tính hưởng trợ cấp.
3. Thời gian tăng thêm do quy đổi nêu trên được tính hưởng chế độ trợ cấp một lần với mức cứ một năm tăng thêm do quy đổi được trợ cấp bằng 1 tháng tiền lương hiện hưởng.
Ví dụ: Đồng chí Đỗ Xuân Quỳnh, Thượng úy (hệ số lương 5,0), công tác tại quần đảo Trường Sa, nơi có phụ cấp khu vực hệ số 1,0 và phụ cấp đặc biệt mức 100% từ tháng 5-2015 đến tháng 4-2017 và từ tháng 8-2020 đến tháng 8-2021 (thời gian công tác được quy đổi mức 1 năm bằng 1 năm 4 tháng là 3 năm 1 tháng; thời gian tăng thêm do quy đổi để tính hưởng trợ cấp là 1 năm), có thời gian công tác trong Quân đội là 12 năm 3 tháng (được tính thâm niên nghề 12%), tháng 12-2024 được chuyển ngành sang Sở Nội vụ TP Đà Nẵng. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành của đồng chí Quỳnh là:
Lương Thượng úy (hệ số 5,0): | 2.340.000 đồng x 5,0 = 11.700.000 đồng |
Phụ cấp thâm niên nghề (12%): | 11.700.000 đồng x 12% = 1.404.000 đồng |
Tổng số: 13.104.000 đồng/tháng |
Trước khi chuyển ngành sang Sở Nội vụ TP Đà Nẵng, đồng chí Quỳnh được hưởng chế độ trợ cấp một lần do có thời gian được tính quy đổi là: 13.104.000 đồng x 1 năm x 1 tháng = 13.104.000 đồng.
QĐND
Tin mới
Hạ thủy thành công tàu chở dầu/hóa chất trọng tải 13.000 tấn
Chiều 15-7, tại Hải Phòng, Công ty Đóng tàu Phà Rừng (thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy) đã hạ thủy thành công tàu dầu/hóa chất 13.000 DWT, ký hiệu vỏ YN-05, mang tên BS SINGAPORE và đấu đà tàu dầu/hóa chất cùng loại, ký hiệu vỏ YN-06.
Đội Quản lý thị trường số 5 tiến hành kiểm tra, tạm giữ nhiều sản phẩm trang sức có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu của Chanel.
Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh An Giang về việc tiếp tục triển khai Kế hoạch cao điểm giám sát, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Đột xuất kiểm tra, phát hiện trang sức có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu trị giá hơn 1,3 tỉ đồng
Triển khai thực hiện nghiêm chỉ đạo của lãnh đạo Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh về việc phối hợp kiểm tra hàng hóa giả nhãn hiệu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, Đội Quản lý thị trường số 14 đã phối hợp cùng Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, công an địa phương và đại diện đơn vị bảo hộ các nhãn hiệu đã kiểm tra 01 vụ kinh doanh hàng hóa là trang sức bằng kim loại màu vàng và kim loại màu trắng có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam
Phát hiện và xử lý số lượng lớn sản phẩm quần áo giả mạo nhãn hiệu
Vừa qua, Đội Quản lý thị trường số 11 đã phát hiện và tiến hành kiểm tra đối với 02 hộ kinh doanh tại phường Bình Hưng Hòa, qua đó phát hiện tại đây đang chứa trữ 3.243 đơn vị sản phẩm là quần áo các loại, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, không có hồ sơ chất lượng hàng hóa kèm theo, chưa qua sử dụng, không có nhãn hàng hóa đúng theo quy định.
Đội Quản lý thị trường số 6 tăng cường rà soát, kiểm tra, thu hồi các sản phẩm mỹ phẩm bị đình chỉ lưu hành và thu hồi theo quy định của pháp luật
Thực hiện Công văn số 1153/QLTT-NVTH ngày 13/7/2026 của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Cao Bằng về việc đình chỉ lưu hành, thu hồi và tiêu hủy mỹ phẩm vi phạm, Đội Quản lý thị trường số 6 đã triển khai văn bản tới từng cán bộ công chức trong Đội để tập trung tiến hành rà soát, kiểm tra, thu hồi các sản phẩm mỹ phẩm theo thông báo của Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế đối với các cơ sở kinh doanh mỹ phẩm trên địa bàn các phường Thục Phán, phường Nùng Trí Cao, phường Tân Giang.
Đội Quản lý thị trường số 5 phát hiện 01 cơ sở kinh doanh 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu.
Ngày 13/7/2026, Đội Quản lý thị trường số 5 kiểm tra đột xuất 01 cơ sở kinh doanh, phát hiện và tạm giữ 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu.










