Phân biệt “tên gọi xuất xứ”, “chỉ dẫn địa lý” với “xuất xứ hàng hóa”
“Tên gọi xuất xứ”, “Chỉ dẫn địa lý” và “Xuất xứ hàng hóa” là những thuật ngữ thuộc các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác nhau. Việc phân biệt rõ các thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong áp dụng pháp luật để xử lý các vụ việc liên quan.
Các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đồng nghĩa là sản phẩm chất lượng, danh tiếng và điều này đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
1.“Tên gọi xuất xứ” và “Chỉ dẫn địa lý”
1.1 Khái niệm
Trên phương diện quốc tế, “tên gọi xuất xứ” (appelation of origin) là thuật ngữ được dùng trước tiên tại Thỏa ước Lisbon về bảo hộ tên gọi xuất xứ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ. Theo Thỏa ước này, “tên gọi xuất xứ” được định nghĩa là “tên gọi địa lý của quốc gia, khu vực, địa phương nơi mà hàng hóa được sản xuất và hàng hóa đó mang tính chất, chất lượng đặc thù của môi trường địa lý, gồm yếu tố tự nhiên và con người". Quy định tại Điều 2 Thỏa ước Lisbon về đăng ký quốc tế và bảo hộ tên gọi xuất xứ năm 1958, sửa đổi bổ sung năm 1967 và 1979.
Năm 1995 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập. Hoạt động của WTO được dựa trên 3 trụ cột pháp lý cơ bản, bao gồm Hiệp định về thương mại hàng hóa (GATT), Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATTS) và Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Tại Hiệp định TRIPS, thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” (geographical indication) được chính thức được sử dụng với ý nghĩa là “những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ một khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định (Điều 22.1 Hiệp định TRIPS).
Hiệp định TRIPS giữ nguyên hiệu lực của Thỏa ước Lisbon (như một phần không tách rời của Hiệp định TRIPS). Theo đó, “tên gọi xuất xứ” được coi là một dạng đặc biệt của “chỉ dẫn địa lý”. Trong khi thuật ngữ “tên gọi xuất xứ” chỉ đề cập đến tên gọi địa lý (geographical name) thì thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” (geographical indication) có ý nghĩa rộng hơn, có thể là tên gọi địa lý và các dấu hiệu khác dưới dạng hình ảnh, biểu tượng...
Tại Việt Nam, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng phản ánh tiến trình này. Trước khi ra nhập WTO, pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta sử dụng thuật ngữ “tên gọi xuất xứ” để chỉ đối tượng bảo hộ tương đương với “applelation of origin” tại Thỏa ước Lisbon. Nhằm đạt được sự thống nhất với Hiệp định TRIPS ra nhập WTO, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thống nhất sử dụng thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” với định nghĩa là “dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” (Điều 4.22 Luật Sở hữu trí tuệ) với những tiêu chí đặc thù. Theo đó, để được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý, đối tượng yêu cầu bảo hộ phải đáp ứng các tiêu chí theo quy định, trong đó về cơ bản bao gồm:
- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
1.2 Đặc điểm của chỉ dẫn địa lý
Thứ nhất, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ) thường là tên địa danh (quốc gia, vùng/khu vực, tỉnh/huyện/xã) nơi có sản phẩm đặc thù, danh tiếng. Do đó, chỉ một số sản phẩm trên thị trường được mang (gắn) chỉ dẫn địa lý. Nói cách khác, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đồng nghĩa là sản phẩm chất lượng, danh tiếng và điều này đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Ví dụ: Chỉ dẫn địa lý “PHÚ QUỐC” cho sản phẩm “Nước mắm”, “MỘC CHÂU” cho sản phẩm “Chè San Tuyết”, “LỤC NGẠN” cho sản phẩm “Vải thiều” của Việt Nam, “SCOTCH WHISKY” cho sản phẩm “Rượu mạnh” của Scốt-len.
Thứ hai, tại Việt Nam quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức/cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức/cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương (nơi có chỉ dẫn địa lý) thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Tổ chức/cá nhân đăng ký được quản lý chỉ dẫn địa lý, mà không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.
Thứ ba, quyền đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) theo thủ tục đăng ký hoặc theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Phù hợp với các quy định nêu trên, Việt Nam đã chấp nhận bảo hộ 116 chỉ dẫn địa lý trong nước. Ngoài ra, có 169 chỉ dẫn địa lý nước ngoài được bảo hộ theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) và 4 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA), (https://ipvietnam.gov.vn/vi_VN/web/guest/chi-dan-dia-ly).
Thứ tư, khi sử dụng chỉ dẫn địa lý thường được thể hiện nổi bật trên sản phẩm. Các tổ chức/cá nhân được sử dụng chỉ dẫn địa lý tuân thủ quy định của Cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý (ở Việt Nam thường là các Sở khoa học và công nghệ/Ủy ban nhân dân) về ghi nhãn hàng hóa cho sản phẩm chỉ dẫn địa lý.
Ví dụ: Chỉ dẫn địa lý PHÚ QUỐC
Thứ năm, hành vi giả mạo chỉ dẫn địa lý là hành vi giả mạo về sở hữu trí tuệ.
Theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi sử dụng (gắn) dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý bị coi là hành vi giả mạo về sở hữu trí tuệ. Do đó, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, đối tượng thực hiện hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 226. “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”, Bộ Luật Hình sự.
2. Xuất xứ hàng hóa
2.1. Khái niệm
Trên phương diện quốc tế, Hiệp định GATT không xác định chi tiết “xuất xứ hàng hóa (origin of goods) là gì? (Technical Information on Rules of Origin (www.wto.org/english/tratop) Phụ lục K của Công ước quốc tế về hài hoà và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999) định nghĩa “Nước xuất xứ hàng hóa” (country of origin of goods) “là nước tại đó hàng hoá được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”.
Tại Việt Nam, Điều 3 Luật Thương mại định nghĩa “xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó”. Điều 3 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết luật quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa cũng ghi nhận định nghĩa tương tự.
2.2. Đặc điểm của xuất xứ hàng hóa
Thứ nhất, ngoại trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật (như bất động sản, thực phẩm tươi sống bán trực tiếp cho người tiêu dùng, hàng hóa đã qua sử dụng…), hàng hóa khi lưu thông trên thị trường bắt buộc phải ghi rõ xuất xứ trên nhãn hàng hóa. Trường hợp do kích thước của hàng hóa không đủ để thể hiện xuất xứ hàng hóa, nội dung này phải được ghi trong tài liệu kèm theo hàng hóa và trên Nhãn hàng hóa phải chỉ ra nơi ghi xuất xứ hàng hóa.
Thứ hai, trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa được coi là “quốc tịch” của hàng hóa mà căn cứ vào đó cơ quan hải quan xác định được hàng hóa đến từ đâu và có được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định thương mại tư do (FTA) hay không. Để chứng minh “quốc tịch” của trong hoạt động xuất nhập khẩu, Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Certificate of Origin, viết tắt là C/O) có ý nghĩa rất quan trọng.
Thứ ba, tại Việt Nam, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp C/O đối với hàng hóa xuất khẩu là Bộ Công Thương (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo ủy quyền của Bộ Công Thương). Khi đề nghị đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thương nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực đối với thông tin khai báo và xác định xuất xứ hàng hóa (Điều 24 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 8/3/2018 quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa)
Ngoài ra, theo quy định pháp luật, Bộ Công Thương là cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu trước và sau khi cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và việc tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của thương nhân (Điều 28 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP.). Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa sản xuất trong nước để hưởng các ưu đãi thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông trên thị trường vẫn còn là khoản trống pháp lý. (Ví dụ: tỷ lệ sản xuất, chế biến ở Việt Nam là bao nhiêu để được xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam?).
Thứ tư, theo quy định pháp luật, việc ghi xuất xứ hàng hóa cần đáp ứng các yêu cầu tại Điều 15 tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 về Nhãn hàng hóa (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021). Trên thực tế, các cụm từ chỉ xuất xứ hàng hóa thường gặp trên sản phẩm là MADE IN… (sản xuất tại…), PRODUCT OF (Sản phẩm của…) kèm theo tên quốc gia/vùng lãnh thổ xuất xứ của sản phẩm như Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam…
Đối với các sản phẩm thông thường, xuất xứ hàng hóa có thể được thể hiện trên tem hoặc nhãn sản phẩm cùng với các thông tin kỹ thuật khác liên quan đến sản phẩm.
Ví dụ: Xuất xứ hàng hóa thể hiện trên giầy Nike và Addidas
Thứ năm, hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022) và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Đáng chú ý là quy định trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm về xuất xứ tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP chủ yếu liên quan đến Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (như tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; cung cấp các tài liệu, chứng từ không đúng sự thật với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi đề nghị cấp hoặc xác minh Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; tự chứng nhận sai xuất xứ hàng hóa…) (Điều 44 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). Do thiếu pháp luật nội dung quy định tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa (thế nào là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam) nên việc xử lý hành vi giả mạo/gian lận xuất xứ hàng hóa trong nước vẫn đang là khoảng trống pháp lý.
Kết luận
Từ những phân tích trên đây, nhận thấy “chỉ dẫn địa lý” (trong đó bao gồm cả “tên gọi xuất xứ”) là những thuật ngữ thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ; trong khi đó “xuất xứ hàng hóa” là thuật ngữ thuộc lĩnh vực thương mại. Do sự khác biệt căn bản này, chỉ dẫn địa lý và xuất xứ hàng hóa được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau. Chỉ dẫn địa lý và xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa, vai trò và cách thức sử dụng khác nhau trên hàng hóa. Thêm nữa, có thể nhận thấy trong khi các quy định liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam là khá đầy đủ, thì các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chí của hàng hóa có xuất xứ trong nước và xử lý hành vi gian lận/giả mạo hàng hóa sản xuất tại Việt Nam vẫn còn là khoảng trống pháp lý cần hoàn thiện.
Đỗ Thị Minh Thủy
Tin mới
Đội Quản lý thị trường số 7 - Hà Nội : Giám sát tiêu hủy lô thực phẩm nhập lậu trị giá hơn 328 triệu đồng
Thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, ngày 01/6/2026, Đội Quản lý thị trường số 7, Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội đã tổ chức giám sát việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy toàn bộ số thực phẩm nhập lậu của hộ kinh doanh do ông V.V.H làm chủ.
Quản lý thị trường thành phố Hà Nội: kiểm tra, phát hiện gần 8.300 bao thuốc lá nhập lậu, chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an xử lý
Thực hiện Quyết định kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ngày 02/6/2026, Đội Quản lý thị trường số 12 phối hợp với Công an phường Khương Đình tiến hành kiểm tra một cơ sở kinh doanh tại số 81 ngõ 29/78 Khương Hạ, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Đà Nẵng: Quyết liệt triển khai Công điện số 38/CĐ-TTg, tăng cường đấu tranh chống hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Thực hiện Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 05/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Bộ Công Thương, UBND thành phố Đà Nẵng. Chi cục QLTT thành phố Đà Nẵng đã ban hành Kế hoạch số 478/KH-CCQLTT về thực hiện đợt cao điểm đấu tranh chống hàng giả, hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ ngày 07/5/2026 đến ngày 30/5/2026
Phát hiện hơn 800 phụ tùng ô tô nghi giả mạo nhãn hiệu PEUGEOT tại Hà Nội
Trong bối cảnh xăng sinh học E10 được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/6/2026, nhu cầu kiểm tra, bảo dưỡng phương tiện và thay thế phụ tùng ô tô có xu hướng gia tăng. Trước nguy cơ các đối tượng lợi dụng thời điểm thị trường sôi động để tiêu thụ phụ tùng giả mạo nhãn hiệu, không rõ nguồn gốc xuất xứ, lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) đã tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh phụ tùng ô tô trên địa bàn.
Bộ Y tế yêu cầu xử lý nghiêm các cơ sở khám, chữa bệnh hoạt động không phép
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố yêu cầu tăng cường kiểm tra, hậu kiểm các cơ sở khám chữa bệnh nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm trong hoạt động hành nghề.
Tăng cường hậu kiểm, chấn chỉnh tình trạng khám, chữa bệnh không phép
Nhằm bảo đảm quyền lợi người bệnh và ngăn chặn các nguy cơ từ hoạt động khám, chữa bệnh không đúng quy định, Bộ Y tế vừa đề nghị các Sở Y tế tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế trên địa bàn. Trọng tâm là phát hiện, xử lý các trường hợp hành nghề không phép, vượt phạm vi chuyên môn, quảng cáo sai sự thật và không tuân thủ các quy định về cấp phép hoạt động.










