• Click để copy

Rút ngắn thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP

Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP).

Nghị định số 71/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 18 Nghị định số 35/2021/NĐ-CP về thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án PPP theo hướng rút ngắn thời gian.

Cụ thể, thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án PPP được tính kể từ ngày có quyết định thành lập Hội đồng thẩm định hoặc kể từ ngày đơn vị được giao nhiệm vụ thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ hoặc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm tra đối với trường hợp thuê tư vấn thẩm tra, cụ thể như sau:

Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ: Thời gian thẩm định rút ngắn từ không quá 45 ngày xuống còn không quá 30 ngày.

Rút ngắn thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP
 Theo quy định mới, thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP được rút ngắn hơn so với trước. Ảnh minh họa: baogiaothong.vn

Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan Trung ương, cơ quan khác, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Không quá 14 ngày (quy định cũ là không quá 30 ngày); đối với dự án thuộc trường hợp chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng: Không quá 10 ngày.

Trường hợp dự án có yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, Chủ tịch Hội đồng thẩm định quyết định thời gian thẩm định phù hợp. Bên cạnh đó, Nghị định số 71/2025/NĐ-CP cũng rút ngắn thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP đã được quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 35/2021/NĐ-CP.

Theo quy định mới, thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP được tính kể từ ngày có quyết định thành lập Hội đồng thẩm định hoặc kể từ ngày đơn vị được giao nhiệm vụ thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ hoặc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm tra đối với trường hợp thuê tư vấn thẩm tra, cụ thể như sau:

Dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ: Thời gian thẩm định rút ngắn từ không quá 90 ngày xuống còn không quá 30 ngày.

Dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan Trung ương, cơ quan khác, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Không quá 14 ngày (quy định cũ là không quá 60 ngày), đối với dự án quy định tại các khoản 2a, 2b và 2c Điều 11 của Luật PPP: Không quá 10 ngày.

Trường hợp dự án có yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, Chủ tịch Hội đồng thẩm định quyết định thời gian thẩm định phù hợp.

* Quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP trên phạm vi 2 tỉnh trở lên

Về trình tự quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Điều 12 Luật PPP (được sửa đổi tại khoản 5 Điều 3 Luật số 57/2024/QH15) bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định chủ trương của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong đó có quy định phân cấp thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP thuộc phạm vi quản lý của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên từ Thủ tướng Chính phủ cho các địa phương.

Do vậy, Nghị định số 71/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 21 Nghị định số 35/2021/NĐ-CP về việc quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP trên phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.

Cụ thể, đối với dự án PPP thực hiện tại địa bàn hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 hoặc điểm b khoản 4a Điều 12 của Luật PPP, Thủ tướng Chính phủ phân cấp cho Bộ trưởng bộ quản lý ngành có ý kiến thống nhất về việc giao một cơ quan làm cơ quan có thẩm quyền. Việc quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP được thực hiện như sau:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương nơi thực hiện dự án trao đổi, thống nhất về việc đề xuất thực hiện dự án, bao gồm các nội dung: Tên dự án, quy mô, địa điểm, loại hợp đồng dự án PPP, sơ bộ tổng mức đầu tư, vốn nhà nước trong dự án PPP và phân chia trách nhiệm cân đối, bố trí ngân sách của từng địa phương.

Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm b khoản 4 Điều 12 của Luật PPP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương nơi thực hiện dự án báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, đồng thuận đối với nội dung quy định tại điểm a khoản này.

Căn cứ văn bản đồng thuận của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương nơi thực hiện dự án thống nhất với bộ quản lý ngành về việc giao một địa phương làm cơ quan có thẩm quyền.

Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm b khoản 4a Điều 12 của Luật PPP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương nơi thực hiện dự án thống nhất với bộ quản lý ngành về việc giao một địa phương làm cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp dự án có yêu cầu sử dụng vốn nhà nước tham gia dự án PPP thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trước khi thống nhất với bộ quản lý ngành về việc giao một địa phương làm cơ quan có thẩm quyền.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được bộ quản lý ngành thống nhất là cơ quan có thẩm quyền của dự án theo quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản này tổ chức chuẩn bị dự án, trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tại điểm b khoản 4 hoặc điểm b khoản 4a Điều 12 của Luật PPP.

Trường hợp kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư; hỗ trợ xây dựng công trình tạm được bố trí từ nguồn ngân sách địa phương của từng địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh thống nhất, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh việc phân chia thành các dự án thành phần bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư; hỗ trợ xây dựng công trình tạm đồng thời với nội dung quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản này để từng địa phương thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công.

* UBND cấp tỉnh phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư không quá 10 ngày

Nghị định số 71/2025/NĐ-CP cũng bổ sung điểm c khoản 6 Điều 21 Nghị định số 35/2021/NĐ-CP quy định thời gian phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư dự án kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Theo đó, dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Không quá 10 ngày; đối với dự án thuộc trường hợp chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng: Không quá 5 ngày làm việc.

* Tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư trong việc huy động vốn và thu xếp tài chính

Nhằm tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư trong việc huy động vốn và thu xếp tài chính của toàn bộ dự án PPP, Nghị định số 71/2025/NĐ-CP sửa đổi khoản 4 Điều 76 Nghị định số 35/2021/NĐ-CP theo hướng bỏ quy định cơ quan ký kết hợp đồng chỉ thanh toán tối đa 50% giá trị khối lượng đối với tiểu dự án sử dụng vốn đầu tư công trong dự án PPP (khi doanh nghiệp dự án đã hoàn thành công trình thuộc tiểu dự án); thay vào đó, bổ sung quy định thanh toán đối với tiểu dự án sử dụng vốn đầu tư công như sau: Trường hợp dự án PPP có tiểu dự án sử dụng vốn đầu tư công theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 70 của Luật PPP, việc thanh toán đối với công trình, hạng mục công trình hoàn thành của tiểu dự án thực hiện theo tiến độ, giá trị, khối lượng hoàn thành được thống nhất giữa cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án tại hợp đồng dự án.

TTXVN

Tin mới

Đội QLTT số 11: Tiêu hủy 300 bánh trung thu không rõ nguồn gốc xuất xứ
Đội QLTT số 11: Tiêu hủy 300 bánh trung thu không rõ nguồn gốc xuất xứ

Ngày 08/9/2026, Đội QLTT số 11 – Chi cục QLTT phối hợp cùng Công an phường Thành Vinh kiểm tra đột xuất 01 cơ sở kinh doanh 300 bánh trung thu không rõ nguồn gốc xuất xứ

Đội QLTT số 11 phối hợp phát hiện, thu giữ vụ vận chuyển 1.490 bao thuốc lá ngoại nhập lậu trên tuyến Quốc lộ 13.
Đội QLTT số 11 phối hợp phát hiện, thu giữ vụ vận chuyển 1.490 bao thuốc lá ngoại nhập lậu trên tuyến Quốc lộ 13.

Thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới; Văn bản chỉ đạo số 233/QLTT-NVTH ngày 16/6/2026 của Chi cục Quản lý thị trường thành phố Đồng Nai về thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Đội Quản lý thị trường số 11 phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường công tác nắm tình hình, kiểm tra, kiểm soát trên các tuyến địa bàn quản lý.

Chi cục Quản lý thị trường thành phố Quảng Ninh: Liên tiếp phát hiện, xử lý 02 vụ vận chuyển hơn 3.000 chiếc bánh trung thu nhập lậu
Chi cục Quản lý thị trường thành phố Quảng Ninh: Liên tiếp phát hiện, xử lý 02 vụ vận chuyển hơn 3.000 chiếc bánh trung thu nhập lậu

Liên tiếp trong 02 ngày 05 và 07 tháng 9 năm 2026, Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục QLTT thành phố Quảng Ninh tiến hành khám phương tiện vận tải, phát hiện 3.384 chiếc bánh trung thu và 112 chai rượu nhập lậu.

Hà Nội: Đội QLTT số 16 liên tiếp phát hiện hàng hóa nhập lậu trên địa bàn phường Việt Hưng
Hà Nội: Đội QLTT số 16 liên tiếp phát hiện hàng hóa nhập lậu trên địa bàn phường Việt Hưng

Trong hai ngày 07 và 08/9/2026, Đội Quản lý thị trường số 16, Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội liên tiếp kiểm tra, phát hiện 02 cơ sở kinh doanh trên địa bàn phường Việt Hưng có dấu hiệu vi phạm trong hoạt động kinh doanh hàng hóa.

Đề xuất cấm bán thuốc lá bằng máy bán hàng tự động, bán thuốc lá trên không gian mạng, nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng số
Đề xuất cấm bán thuốc lá bằng máy bán hàng tự động, bán thuốc lá trên không gian mạng, nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng số

Tiếp thu và giải trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Bộ Y tế đã chỉnh lý sửa đổi, bổ sung về hành vi bị nghiêm cấm như: Bán thuốc lá bằng máy bán hàng tự động, bán thuốc lá trên không gian mạng, nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng số hoặc phương thức giao dịch điện tử khác; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút, bán thuốc lá.

Cử tri kiến nghị công tác quản lý an toàn thực phẩm tại cấp xã khó khăn do thẩm quyền xử lý vi phạm hạn chế
Cử tri kiến nghị công tác quản lý an toàn thực phẩm tại cấp xã khó khăn do thẩm quyền xử lý vi phạm hạn chế

Cử tri tỉnh Nghệ An phản ánh: Hiện nay, công tác quản lý an toàn thực phẩm tại cấp xã gặp nhiều khó khăn do thẩm quyền kiểm tra, xử lý vi phạm còn hạn chế, trong khi đây là cấp trực tiếp bám sát địa bàn và quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ. Kiến nghị Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu Chính phủ nghiên cứu tăng cường phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra, xử lý vi phạm và bảo đảm an toàn thực phẩm từ cơ sở.