Nuôi biển - không đơn thuần là nuôi tôm, nuôi cá
Những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản trên biển (hay còn gọi là nuôi biển) ở nước ta có bước phát triển khá mạnh mẽ, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế. Việc nuôi biển sẽ làm giảm lượng khai thác, đánh bắt hải sản gần bờ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn cần những chính sách tổng thể để khai thác tiềm năng từ nuôi biển một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái trên biển.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025 có thể đạt 1 tỷ USD
Theo ông Trần Công Khôi, Phó vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản (Tổng cục Thủy sản): Tổng diện tích nuôi biển ở nước ta hiện khoảng 85.000ha với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23,3%/năm (chưa tính 202.000ha nuôi xen ghép các đối tượng khác); với 8,9 triệu mét khối lồng, bè. Sản lượng nuôi biển năm 2022 đạt 750.000 tấn với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm. Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến hết năm 2022, có 7.447 cơ sở nuôi biển với 248.768 lồng, bè.
Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu đến năm 2025, diện tích nuôi biển của Việt Nam đạt 280.000ha, thể tích lồng nuôi đạt 10 triệu mét khối, sản lượng nuôi biển đạt 850.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt từ 0,8 đến 1 tỷ USD. Đến năm 2030, diện tích nuôi biển đạt 300.000ha, thể tích lồng nuôi 12 triệu mét khối, sản lượng nuôi biển đạt 1,45 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8-2 tỷ USD. Tầm nhìn đến năm 2045, ngành công nghiệp nuôi biển của nước ta đạt trình độ tiên tiến với phương thức quản lý hiện đại. Công nghiệp nuôi biển trở thành bộ phận quan trọng trong ngành thủy sản, có đóng góp hơn 25% tổng sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4 tỷ USD.
|
Nuôi tôm hùm ở vịnh Xuân Đài, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. |
Vẫn chủ yếu tự phát, nhỏ lẻ, ven bờ
Tiềm năng từ nuôi biển rất lớn, nhưng hiện nay cách thức triển khai còn nhiều hạn chế. Hiện có 445 cơ sở sản xuất giống phục vụ nuôi biển, trong đó 55 cơ sở sản xuất giống cá biển, sản lượng cá giống đạt khoảng 550 triệu con; 390 cơ sở sản xuất giống nhuyễn thể (trai, hàu, sò...) sản lượng đạt 45 tỷ con. Đa phần giống phục vụ nuôi biển đã chủ động sản xuất, song hiệu quả sản xuất chưa cao. Một số loài thủy sản chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nguồn khai thác giống từ tự nhiên và nhập khẩu. Đặc biệt đối với tôm hùm, vì vẫn chưa chủ động được nguồn giống nên mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 5 triệu con giống. Theo ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản: Hiện số cơ sở nuôi biển của Việt Nam vẫn chủ yếu tự phát, nhỏ lẻ, ven bờ là chính. Hình thức nuôi biển chủ yếu dùng thức ăn theo kiểu truyền thống. Việc nuôi theo hình thức này hiệu quả kinh tế chưa cao, đồng thời còn ảnh hưởng tới môi trường.
Đồng tình với quan điểm này, PGS, TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam nhận xét: "Đến nay, chúng ta vẫn thiếu quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, nhân lực trong lĩnh vực nuôi biển. Cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi biển vừa thiếu, vừa yếu chưa đáp ứng yêu cầu ở quy mô công nghiệp. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nuôi biển của nước ta vẫn còn nhỏ lẻ. Việt Nam là quốc gia ven biển có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng rong, tảo biển. Thế nhưng do chưa khai thác được tiềm năng, thế mạnh này nên mỗi năm Việt Nam vẫn nhập khẩu hàng trăm nghìn tấn rong biển khô.
Cần xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nuôi biển
Theo các chuyên gia nông nghiệp, để nghề nuôi biển Việt Nam phát huy được hết tiềm năng, lợi thế, cần xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nuôi biển như: Nhà nước giao quyền sử dụng vùng biển dài hạn (30-50 năm) cho chủ đầu tư, có chính sách về tín dụng, hỗ trợ đào tạo nhân lực, bảo hiểm nuôi biển.... Cùng với đó cần xây dựng chuỗi giá trị cho các sản phẩm nuôi biển chủ lực, từ khâu sản xuất con giống, thức ăn, nuôi, bảo quản, chế biến, xuất khẩu, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ. Cần phát triển nuôi biển cả trong các eo vịnh ven bờ, ven các đảo và quần đảo, ngoài khơi xa và cả trên bờ, phát huy đa dạng sinh học của vùng nhiệt đới.
Ông Ngô Hùng Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản Tân An cho hay, doanh nghiệp của ông sẵn sàng ra ngoài vùng biển cách bờ 6 hải lý, đầu tư hàng triệu USD để phát triển nghề nuôi biển. Tuy nhiên, để nghề nuôi biển phát triển trong thời gian tới, ông Dũng mong Nhà nước sớm có cơ chế, chính sách, khung pháp lý rõ ràng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.
Ông Ngô Tất Thắng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh thì cho rằng: "Khái niệm nuôi biển cần được mở rộng theo hướng sử dụng tài nguyên biển (nước biển) chứ không nhất thiết gói gọn trong nghĩa là nuôi, trồng thủy, hải sản trên biển. Ví như mô hình nuôi cua lột ở Hà Nội và một số địa phương là mô hình nuôi biển trên bờ.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan: Thời gian qua, rào cản quản lý đã làm cản trở việc mở rộng giới hạn, tận dụng tiềm năng ngành nuôi biển. Bộ trưởng cho rằng đối tượng trong nuôi biển không chỉ là “con tôm, con mực, con cá...” mà còn gồm hàng loạt đối tượng tiềm năng khác như rong biển, san hô... Hiện nay, tồn tại thực trạng các viện nghiên cứu về nuôi biển bị giới hạn, chỉ gói gọn trong lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật chứ chưa có bộ phận nghiên cứu thị trường. Do đó, các viện cần phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong nuôi biển để hình thành chuỗi giá trị tham gia thị trường, sản phẩm nghiên cứu khoa học mới có thể đóng góp cho xã hội. Nhà khoa học không thể đi một mình. Không gian nuôi biển cần được mở rộng vào trong đất liền để có thể đa dạng hóa công nghệ, đa dạng hóa ngành nghề trong lĩnh vực nuôi biển. Người dân không nhất thiết chỉ nuôi tôm, nuôi cá mà có thể tìm đến những đối tượng nhiều tiềm năng khác đã được các viện, trường nghiên cứu, được ngành nông nghiệp địa phương giới thiệu. Từ đó mới có thể tính đến những vấn đề khác như vốn, tín dụng, đào tạo, quy trình sản xuất, xu thế thị trường...
Như vậy có thể thấy, việc phát triển nuôi biển thành công không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, giá trị gia tăng mà còn góp phần xây dựng ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, giữ gìn, bảo vệ được hệ sinh thái biển phong phú, đa dạng. Do đó, rất cần những chính sách tổng thể, khuyến khích trong lĩnh vực này.
Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM
Tin mới
Đồng Tháp: Xử phạt hơn 450 triệu đồng đối với 28 cơ sở kinh doanh hàng giả mạo nhãn hiệu
Chỉ trong hai tháng đầu năm 2026, Đội Quản lý thị trường số 10 thuộc Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Tháp đã liên tiếp phát hiện và xử lý 28 vụ việc vi phạm liên quan đến buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Lực lượng chức năng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền hơn 450 triệu đồng, đồng thời buộc tiêu hủy toàn bộ tang vật vi phạm có trị giá hơn 230 triệu đồng.
Bắc Ninh: Tạm giữ hàng nghìn lõi vợt Pickleball không rõ nguồn gốc trị giá 340 triệu đồng
Lực lượng chức năng tỉnh Bắc Ninh vừa tiến hành kiểm tra đột xuất một cơ sở sản xuất trên địa bàn xã Phật Tích, qua đó phát hiện và thu giữ 2.000 chiếc lõi vợt Pickleball không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Tổng trị giá tang vật vi phạm trong vụ việc này được xác định lên tới hàng trăm triệu đồng.
Thanh Hóa: Xử phạt 25 triệu đồng cơ sở kinh doanh hàng trăm túi nước sốt không rõ nguồn gốc
Đội Quản lý thị trường số 7 tỉnh Thanh Hóa vừa phối hợp với lực lượng Công an địa phương phát hiện, xử lý một cơ sở kinh doanh tàng trữ 300 túi nước sốt không rõ nguồn gốc xuất xứ. Cơ quan chức năng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 25 triệu đồng, và buộc tiêu hủy toàn bộ tang vật vi phạm.
Phát hiện gần 6 tấn xương, đuôi, chân trâu bò bốc mùi trong hai kho lạnh ở Thanh Hóa
Ngày 27/2, Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết, Phòng Cảnh sát kinh tế đơn vị này đã phối hợp với Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và Đội Quản lý thị trường số 09 tiến hành kiểm tra đột xuất hai kho lạnh, đồng thời là cơ sở thu mua, sơ chế xương, đuôi, chân trâu, bò trên địa bàn xã Hoàng Giang và xã Thọ Long.
Công an Đắk Lắk cảnh báo nguy cơ buôn lậu, rửa tiền từ vàng không rõ nguồn gốc
Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, từ đầu năm 2026 đến nay, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý nhiều vụ kinh doanh vàng không rõ nguồn gốc, vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 370 triệu đồng.
Gia Lai: “Tuyên chiến không khoan nhượng” với buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đến năm 2030
UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch số 79/KH-UBND triển khai thực hiện Nghị quyết số 397/NQ-CP ngày 5/12/2025 của Chính phủ Việt Nam về Kế hoạch hành động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến năm 2030.











